Theo
bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người
Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống,
học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời
mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung” nhưng thực tế là vĩnh
viễn.
Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ
sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những
đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và
những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với
cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với
quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.
Tiểu bang
California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện
tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt
chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng
mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc
hơn 300 năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ,
nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển
khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.
Ðối với
những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi
như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao
giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn,
chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.
Một
người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc
đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ
nhàng hơn như lúc về nhà.
Một người Việt xa quê hương
đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi
nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có
cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn
hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà
chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao
nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi.
Gần như
chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những
tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ,
đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho
đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những
đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên
một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.
Quê hương
ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước
Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công
việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ,
có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây
38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi
bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại
có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây,
sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời
sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà
nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!
Trong
cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí,
truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên
vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên
hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh
rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ
nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu
nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa
Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.
Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.
Ông
Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào
nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã
hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn
nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình
thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân
tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết.
Nước
Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào
không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó
là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng
ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt
trước và sau.
Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo
vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối
tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ
có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San
Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,”
mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có
người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp
bảng “stop” cũng phải đừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác
để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều
như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh
thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một
chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.
Chúng ta
bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn
“thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con
người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau
mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó
là bất thường, bất nhân và vô loại. Thì chúng ta, trong xã hội này,
cũng theo lời ông Khổng Tử: “ Ở chung với người bất lương, như vào trong
chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!”
Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen
thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống
với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết.
Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem
những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc
vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý
hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay
đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã
xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu
phân biệt được mùi hôi nữa!
Ðiều cuối cùng chúng tôi
muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng
mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi
được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan
thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi
thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.
Nhiều
kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của
chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.
Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời sống này!
Thursday, November 5, 2015
Tuesday, November 3, 2015
24 câu nói của Đức Daila Latma
Hạnh
phúc đích thực có được từ sự biết "hài lòng" và "hòa bình nội tại". Sự hài
lòng và hòa bình nội tại chỉ có thể đạt được, thông qua sự phát triển tinh
thần vị tha về tình thương, từ bi và sự diệt trừ vô minh, ích kỷ và tham
lam.
1-
Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn. Hạnh phúc đến từ hành động của chính
ta.
2- Nếu có thể, hãy giúp người khác. Nếu không có thể thì ít nhất không nên hại ai.
3- Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi.
4- Tôn giáo của tôi rất đơn giản. Tôn giáo của tôi là sự tử tế.
5- Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời.
2- Nếu có thể, hãy giúp người khác. Nếu không có thể thì ít nhất không nên hại ai.
3- Nếu bạn muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi.
4- Tôn giáo của tôi rất đơn giản. Tôn giáo của tôi là sự tử tế.
5- Hãy nhớ rằng khi không đạt được những gì bạn muốn, đôi lúc, lại là sự may mắn tuyệt vời.
6- Thẩm quyền tuyệt đối luôn dựa vào lý trí và sự phân tích nghiêm túc.
7- Chúng ta có thể sống thiếu tôn giáo và thiền định, nhưng chúng ta không thể tồn tại nếu không có tình người.
8- Chúng ta không bao giờ đạt được hòa bình trên thế giới, ngoại trừ chúng ta phải thực sự có hòa bình trong chính mình.
9- Hãy trở nên tử tế bất cứ khi nào có thể. Trên thực tế, ai cũng có thể trở nên tử tế.
10- Nếu bạn có sợ hãi về nỗi khổ niềm đau, bạn nên quan sát xem bạn có thể làm được gì với nó. Nếu bạn có thể, không có gì phải lo lắng về nó. Nếu bạn không thể làm được, lại càng không nên lo lắng về nó.
11- Nếu không yêu thương chính mình, bạn không thể yêu thương người khác. Nếu bạn không có từ bi đối với mình, bạn không thể phát triển lòng từ bi đối với người khác.
12- Tiềm năng con người vốn bằng nhau ở mỗi người. Cảm giác: Tôi không có giá trị là sai lầm... Hoàn toàn sai lầm! Bạn đang lừa dối chính mình. Chúng ta có năng lực tư duy, do vậy, thử hỏi ta thiếu cái gì đây? Nếu ta có năng lực ý chí, bạn có thể thay đổi mọi thứ. Bạn có thể nói rằng: Bạn là chủ nhân của chính bạn.
13- Chúng ta phải thừa nhận rằng, khổ đau của một người hoặc một quốc gia, cũng là khổ đau chung của nhân loại. Hạnh phúc của một người hay một quốc gia, cũng là hạnh phúc của nhân loại.
14- Bằng bạo lực, bạn có thể giải quyết được một vấn đề, nhưng đồng thời, bạn đang gieo các hạt giống bạo lực khác.
15- Khi con người còn sống, chúng ta phải nghĩ đến các thế hệ tương lai: "Một môi trường sạch được xem là nhân quyền, giống như bao quyền khác". Vì vậy, một phần trách nhiệm của chúng ta về người khác là đảm bảo rằng, thế giới mà ta đang sống là khỏe mạnh, nếu không nói là khỏe mạnh hơn cái ta đã thấy.
16- Danh ngôn Tây Tạng có câu: Bi kịch nên được sử dụng như nguồn sức mạnh. Bất luận là khó khăn nào, kinh nghiệm đau khổ ra sao, nếu chúng ta đánh mất hy vọng thì đó là thảm họa đích thực.
17- Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là con người hay con vật, là để cống hiến, theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới.
18- Cái muỗng không thể nếm được vị của thức ăn mà nó chứa đựng. Tương tự : "người ngu không thể hiểu được trí tuệ của người khôn", dù cho có thân cận bậc thánh.
19- "Từ bi" và "độ lượng" không phải là dấu hiệu của yếu đuối, mà thực ra là biểu hiện của sức mạnh.
20- Mỗi ngày, khi thức dậy, bạn hãy nghĩ rằng: "Hôm nay tôi may mắn còn sống, tôi có cuộc sống con người quý giá, tôi sẽ không phí phạm cuộc sống này".
21- Hãy nhớ rằng... "im lặng", thỉnh thoảng là câu trả lời tốt nhất.
22- Hạnh phúc đích thực có được từ sự biết hài lòng và hòa bình nội tại. Sự hài lòng và hòa bình nội tại chỉ có thể đạt được, thông qua sự phát triển tinh thần vị tha về tình thương, từ bi và sự diệt trừ vô minh, ích kỷ và tham lam.
23- Tôn giáo không có nghĩa là giới điều, đền miếu, tu viện hay các dấu hiệu bên ngoài, vì chúng chỉ là các yếu tố hỗ trợ trong việc điều trị tâm. Khi tâm trở thành sự thực tập, mỗi người mới thực sự là một hành giả tôn giáo.
Monday, November 2, 2015
Nhạc sĩ Dzũng Chinh – tác giả “Những Đồi Hoa Sim” chết trên đồi hoa sim
Nhạc sĩ DZŨNG CHINH
(Đã có
một vài bài viết nói về cái chết của Nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhưng tiếc
là không chính xác. Bài viết này nhằm mục đích làm rõ cái chết của
ông, một nhạc sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm “Những Đồi
Hoa Sim”. Người viết bài này đã ở cùng một đơn vị với ông khi ông tử
trận)
***
Nhạc sĩ Dzũng Chinh không có nhiều sáng tác, nhưng nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”
đã làm nên tên tuổi ông. Bài hát được phổ biến trong những năm đầu thập
niên 1960, thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu khốc liệt, hàng hàng
lớp lớp thanh niên miền Nam, hầu hết là những học sinh, sinh viên tạm
gác bút nghiên, lên đường tòng quân bảo vệ giang sơn. Bài hát Những Đồi
Hoa Sim (viết theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim
của Hữu Loan, một nhà thơ sống ở miền Bắc) phổ biến rất rộng rãi và
nhanh chóng được quần chúng đón nhận khá nồng nhiệt, đặc biệt trong hàng
ngũ lính chiến miền Nam Việt Nam.
Nhạc sĩ Dzũng Chinh cũng là một người
lính chiến thực thụ. Tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán ở Bình Can
-Võ Cạnh- Nha Trang (sinh ngày 18/12/1941). Trước khi theo học khóa sĩ
quan đặc biệt ở Đồng Đế Nha Trang, anh là hạ sĩ quan phục vụ tại Tiểu
Đoàn 2/14/ Sư Đoàn 9 Bộ Binh thuộc Vùng IV. Cuối năm 1968, sau khi tốt
nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, anh chọn đơn vị Sư Đoàn 23 BB và xin được
phuc vụ tại Trung Đoàn 44 (trú đóng tại Sông Mao, Phan Thiết).
Thời điểm này, Sư Đoàn 23 BB đặt bản
doanh tại Ban Mê Thuột, đặc trách hành quân trong lãnh thổ Khu 23
ChiếnThuật. Sư Đoàn có 3 trung đoàn cơ hữu. Trung Đoàn 45 BB trú đóng
tại Ban Mê Thuột, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, phụ tránh hành quân an ninh
tại các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Trung Đoàn 53 BB đồn trú tại Di Linh
(Lâm Đồng), trách nhiệm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức. Riêng
Trung Đoàn 44 BB trú đóng tại Sông Mao, Bình Thuận, đảm trách các tỉnh
miền duyên hải: gồm Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa.
Trung Đoàn 44 BB đồn trú tại trại Lý
Thường Kiệt, Sông Mao, một doanh trại rộng lớn của Sư Đoàn 5 BB, thời
Đại tá Voòng A Sáng, bàn giao lại để di chuyển vào Vùng 3 CT. Sông Mao
là một thị trấn nhỏ thuộc quận Hải Ninh, nằm phía Bắc Phan Thiết khoảng
60 cây số, cách Quốc Lộ 1 gần 2 cây số. Hầu hết dân chúng ở đây là người
Nùng, đã theo chân Đại tá Voòng A Sáng và Sư Đoàn 3 Dã Chiến (tiền thân
của Sư Đoàn 5 BB) từ vùng Mống Cái, Bắc Việt di cư vào đây tháng 8 năm
1954. Phía dưới là quận Phan Lý Chàm (Chợ Lầu). Dân chúng đa số là người
Chàm. Có cả dinh cơ của bà công chúa cuối cùng của Vương quốc Chiêm
Thành, với đền thờ vua, cờ xí, long bào và ấn tín. Cách đó không xa là
mật khu Lê Hồng Phong nổi danh của VC.
Nhắc đến địa danh Sông Mao và mật khu Lê Hồng Phong, người ta nhớ tới mấy câu thơ nổi tiếng hào sảng của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
…..
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Chuẩn Úy Nguyễn Bá Chính xin về Trung
Đoàn 44 BB nhằm được gần quê quán. Anh được bổ sung về Đại Đội 1 thuộc
Tiểu Đoàn 2/44. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu Đoàn
Trưởng là Đại Úy Ngô Văn Xuân (đến tháng 5 năm 1972 ông là Trung tá
Trung Đoàn Trưởng). Một tháng sau khi về đơn vị, anh được vị sĩ quan
trưởng khối CTCT Trung Đoàn biết anh là nhạc sĩ Dzũng Chinh nên xin biệt
phái anh về Khối CTCT, tạm thời đảm trách Ban Văn Nghệ, mới được thành
lập. Vốn mang tính nghệ sĩ và sống phóng khoáng, nên anh thường (dù) về
Phan Thiết chơi với bạn bè, nhiều lần vắng mặt tại đơn vị, nên bị trả
lại Tiểu Đoàn, tiếp tục giữ chức vụ trung đội trưởng tác chiến.
Đầu tháng 3 năm 1969, Tiểu Đoàn 2/44 di
chuyển ra hành quân tại khu vực quận Ninh Phước thuộc Tiểu Khu Ninh
Thuận. Đại Đội 1/2 đảm trách an ninh tại Văn Lâm, một làng của người
Chàm, nằm phía Đông Nam tỉnh lỵ Phan Rang khoảng 25 cấy số. Nhận tin
tức của Phòng Nhì Tiểu Khu, cho biết có một mũi công tác của Việt Cộng
từ mật khu núi Chà Bang (tiếng Chàm: Chơk Chabbang) sẽ về Văn Lâm thu
thuế và thực phẩm, Tiểu Đoàn ra lệnh Đại Đội 1 cho một trung đội đến án
ngữ dưới chân núi Chà Bang để phục kích toán quân VC khi chúng trên
đường ra Văn Lâm. Trung Đội của Dzũng Chinh nhận lãnh trách nhiệm đặc
biệt này. Đến địa điểm phục kích khoảng 7 giờ tối, Chuẩn úy Chính cho
tiểu đội của Trung sĩ Luận ra nằm tiền đồn phía trước, bên con đường mòn
dưới chân núi, cách trung đội chừng 500 mét, vừa theo dõi báo cáo bằng
tín hiệu riêng khi địch quân xuất hiện, vừa làm nút chặn, khi đám địch
bị trung đội tấn công, chạy ngược lại phía sau.
Khoảng 11 giờ tối, một toán người xuất
hiện và lên tiếng: “Luận về đây”. Chuẩn úy Chính tưởng là Trung sĩ Luận
đã dắt tiểu đội về, nên hỏi lại: “Sao Luận về sớm vậy?” Một tràng súng
nổ tức thì. Chinh ngã xuống.
Thì ra có một trùng hợp kỳ lạ, quái ác,
đã đưa đến cái chết tức tưởi của Dzũng Chinh. “Luận về đây” lại là mật
khẩu của địch, trong đó cũng có tên Luận trùng với tên Trung sĩ Luận,
người tiểu đội trưởng của Chính có nhiệm vụ tiền đồn. Địch quân sợ bị
phục kích nên đã chia làm hai toán, sử dụng lộ trình khác, không đi theo
con đường mòn, nên tiểu đội tiền đồn của Trung sĩ Luận không phát hiện
được. Chính vì sự ngộ nhận đáng tiếc này làm Dzũng Chinh đã hứng trọn
một tràng đạn AK của địch. Đại Đội cho bắn trái sáng, kịp thời bao vây
và truy kích tiêu diệt đám địch quân. Chính bị thương khá nặng. Được
trực thăng của Mỹ tản thương kịp thời về Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch
Phan Thiết. Nhưng vì vết thương quá nặng ở vùng bụng và ngực, nên sáng
hôm sau Dzũng Chinh qua đời.

(Núi Chà Bang – nơi Dzũng Chinh nằm xuống)
Cái chết oan uổng của Dzũng Chinh đã
được bạn bè cùng đơn vị bàn tán khá nhiều với vài sự kiện mà mọi người
cho là những điềm gỡ báo trước:
Ngày xưa lương lính thường không đủ xài,
nhất là những khi được về thành phố, nên trước cuộc hành quân, Dzũng
Chinh đến Ban Tài Chánh Trung Đoàn xin mượn lương trước. Vị sĩ quan tài
chánh ngần ngừ, bảo sao mượn lương sớm thế. mới đầu tháng đã mượn, hơi
khó xử cho ông. Dzũng Chinh gãi đầu năn nỉ:
– Thì Đại úy cứ xem như ứng trước tiền tử tuất cho tôi thôi mà.
Vị Đại úy cho mượn, nhưng rầy anh:
– Cậu chớ nói điều gỡ, không nên!
Sau đó, anh rủ hai người lính về thành
phố Phan Thiết chơi. Không hiểu đụng chạm thế nào, nhóm anh đánh nhau
với một nhóm lính hải thuyền. Trước ngày đi hành quân, anh nhận giấy báo
của Quân Cảnh Tư Pháp Phan Thiết, gọi trình diện. Anh khoe với đám bạn
bè trong một buổi nhậu rồi nói:
– Kỳ này tao đi luôn, xem thử lấy ai mà trình diện!
Không ngờ anh đã đi luôn thật.
Dưới chân núi Chà Bang, nơi Dzũng Chinh
ngã xuống là một vùng đầy hoa sim. Tác giả nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”
cuối cùng cũng đã nằm xuống trên ngọn đồi bạt ngàn hoa sim tím. Anh
đựợc an táng tại Nghĩa Trang Mả Thánh ( Phương Sài, Nha Trang), sau này
bị chính quyền CS giải tỏa, không biết đã được di dời về đâu.
Cái chết của Chuẩn úy Nguyễn Bá Chính,
một trung đội trưởng bộ binh, cũng lặng lẽ như hàng vạn chiến sĩ vô danh
khác đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt để bảo vệ quê
hương, nhưng tên tuổi Dzũng Chinh được nhiều người tiếc thương, nhắc
nhở, bởi vì anh là một nhạc sĩ trẻ tuổi, đã tạo nên một tác phẩm đi vào
lòng người, và mãi ở lại với thiên thu.
Nguồn blog Phạm Tín An Ninh
Wednesday, October 28, 2015
ĐỜI SỐNG SAU NHỮNG CƠN MƯA BOM (National Geographic Tháng Tám 2015)
ĐỜI
SỐNG SAU NHỮNG CƠN MƯA BOM
(National
Geographic Tháng Tám 2015)
T. D. Allman viết
Ảnh do Stephen Wilkes cung cấp
Hoa Kỳ đã thả hơn 2 triệu
tấn bom xuống nước Lào từ năm 1964 đến năm 1973 trong suốt trận chiến tranh Việt
Nam. Số lượng bom tương đương với một phi cơ chứa đầy bom thả xuống cứ mỗi tám
phút trong thời gian 9 năm. Làm thế nào quốc gia này khôi phục lại đời sống bình
thường?
Những ngày trên cánh đồng
Chum (Lào), tôi cố gắng hình dung, tìm câu trả lời trong suốt về đất nước Lào,
một trong những quốc gia bị những trận mưa bom nặng nề nhất, vẫn tiếp tục đi lên
và tìm thấy tương lai. Cuối cùng, trên một con đường ở Phonsavan, thành phố chính
của tỉnh, tôi đã tìm ra, một đống vỏ bom khổng lồ, người Hoa Kỳ để lại sau những
chiến dịch thả bom trên đất Lào. Một chứng cớ của sự tàn phá, và gần đống bom đạn
phế liệu đó, có một máy lấy tiền (ATM). Một ngôi chùa lớn mầu xanh, trắng làm
cho đống phế liệu trở nên “nhỏ nhoi” chìm dần vào lãng quên về một trận chiến
tranh. Sau khi xem xét đống vỏ bom (qủa bom không nổ), tôi bước lại máy lấy tiền,
cho thẻ tín dụng vào, lấy ra một triệu đồng (Kip, của Lào), khoảng 120 đô la
Hoa Kỳ. Những tờ giấy bạc 50 ngàn (Kip) nói lên một câu chuyện mới về nước Lào,
nơi mà những qủa bom đã nhường chỗ cho tiền bạc.
Trước đây, trong tỉnh
Xiêng Khoang (nơi có Cánh Đồng Chum), trẻ con lớn lên ít khi được nhìn thấy ánh
mặt trời. Dân chúng phải sống dưới hầm, trong những hang động. Ngày nay,
Phonsavanis là một thành phố sầm uất, có đèn đường chỉ dẫn giao thông với con số
điện tử cho người bộ hành biết còn bao nhiêu giây để băng qua đường. Bạn có thể
tìm dễ dàng, một nhà băng, một tiệm ăn, một chợ bán đủ loại trái cây, rau qủa tươi,
ngay cả một cửa hàng bán giầy thể thao (để chạy, có lẽ Adidas,Nike,…). Dọc theo
những “chum” bằng đá cổ xưa trên Cánh Đồng Chum, vẫn còn bí ẩn cho những nhà khảo
cổ, có những mảnh bom người Hoa Kỳ để lại sau những trận thả bom kéo dài từ
1964 đến năm 1973. Đó cũng là những “quảng cáo” hấp dẫn đối với du khách. Đống
vỏ bom phế liệu năm ngay bên cạnh một văn phòng du lịch điạ phương.
Chỉ
có vài nơi trên Cánh Đồng Chum mới được khai quang bom đạn an toàn cho du khác.
Vài nhà khảo cổ tin rằng những cái chum khổng lồ 2000 năm dùng trong nghi lễ an
táng.
Với những ngọn đồi trải
dài xa xa trên cánh đồng cỏ tranh, Cánh Đồng Chum trông giống như một sân đánh
Golf rộng lớn. Cát bụi lắng đọng nhiều trên cánh đồng do những trận mưa bom, hàng
triệu qủa bom đã nổ, hàng triệu qủa không nổ khác vẫn là mối đe dọa thường xuyên,
đặc biệt đối với những người Lào sinh sống bằng cách đi lấy sắt thép từ những qủa
bom không nổ.
“Chào mừng đến thăm nhà
ông Phet Napia, chuyên làm Thià (Muỗng) và Vòng đeo tay” nơi làng Ban Naphia.
Trong sân sau nhà, ông Phet nấu chẩy nhôm từ những vỏ bom bằng nhôm, sau đó đổ
vào khuôn làm các vật dụng ăn uống trong nhà. Các nhà hàng, tiệm ăn trong khu vực
dường như lấy hàng: thìa, dao nĩa, đũa làm bằng phế liệu từ thời chiến tranh. Công
nghệ của ông Phet đã được quảng cáo trong các dịch vụ mua bán nhà cửa, truyền hình
vệ tinh, đèn điện,…
Một hình ảnh sống động
Quốc gia Lào có dân số
không đến 7 triệu người, nhưng có gần 5 triệu điện thoại di động. Tại Ban
Pak-Ou, một ngôi làng trong khu vực thượng lưu sông Cửu Long, những người dân
sinh sống bằng nghề đánh cá, cũng vừa câu cá vừa nói chuyện qua chiếc điện thoại
di động.
Thủ đô Vientiane (Vạn
Tượng) là một thành phố đang phát triển với những dinh thự cao 12 tầng. Trước đây
rất lặng lẽ với tiếng mưa rơi, tiếng khóc trẻ con, tiếng người nói cười, tiếng
tăng sĩ cầu nguyện, bây giờ thay bằng tiếng máy điều hòa không khí, tiếng máy
phát điện nổ, tiếng xe gắn máy, cùng tiếng bóp còi rộn đường phố.
Nền kinh tế nước Lào
gia tăng gần 8% một năm. Lá cờ đảng Nhân Dân Cách Mạng với búa, lưỡi liềm theo
kiểu Nga Sô vẫn tung bay bên cạnh lá cờ quốc gia. Chính quyền Lào theo đuổi chính
sách kinh tế tự do trong vùng Đông Nam Á, với hy vọng sẽ ra khỏi danh sách những
quốc gia nghèo khó của Liên Hiệp Quốc vào năm 2020.
Ở Lào, người giầu có trở
nên giầu hơn, và ngay cả một nơi hẻo lánh nhất với những người dân đơn sơ, mộc
mạc, tôi được chứng kiến một hình ảnh ít người trên thế giới hình tượng ra được.
Gần biên giới Việt Nam, giữa nước Lào, tôi trông thấy một thanh niên trẻ lái xe
gắn máy trên đường trở về nhà, một tay anh ta nắm chặt điã bắt sóng vệ tinh cho
máy truyền hình. Trong những ngôi làng trên vùng núi non, cao nguyên, tôi được
trông thấy đàn trẻ con đến trường trong đồng phục mầu xanh, trắng. Tôi cũng đã
thấy nhiều đền chùa được sửa sang, và vài nhà thờ Tin Lành được xây dựng. Bạn vẫn
trông thấy những vị sư trong áo cà sa ở khắp nơi, nhưng bây giờ họ mang theo túi
đựng máy vi tính.
Giòng sông Cửu Long vẫn
chẩy ngang qua VienTiane như trong lịch sử, nhưng dọc theo bờ sông đã thay đổi.
Trước đây là bùn và bãi cát, bây giờ là hành lang công viên dài hai dặm, với nhữg
dụng cụ thể dục, lối đi hẹp để chạy bộ, và bãi đậu xe hơi (nhà giầu). Buổi tối đông
đảo với những cặp tình nhân, người bán hàng rong, người biểu diễn trên đường lấy
tiền, tiếng cười trẻ em, và giới trẻ nhẩy múa theo kiểu tây phương (break
dancing). Những nghệ sĩ (đường phố) ca hát và những “thầy” xem bói cho người đi
dạo mát.
Như những chuyện đổi
thay trên đất Lào, công viên bờ sông ở Vientiane là một thành công trong kế hoạch
xây dựng thành phố, nỗ lực vào nếp sống người dân nơi giòng sông, nơi thoáng mát,
rộng rãi. Ngoài ra còn bảo vệ Vientiane chống lụt lội do sông Cửu Long. Ai là
người xây công viên bờ sông? Phần lớn do ngân khoản mượn từ Nam Hàn, một quốc
gia phát triển mạnh ở Á châu. Nam Hàn giúp đỡ tích cực hơn những “siêu cường”
(Pháp, Hoa Kỳ) trước đó.
Trong suốt thời gian Pháp
thuộc và ảnh hưởng của người Hoa Kỳ, cả hai quốc gia chưa từng xây một chiếc cầu
nào bắc qua sông Cửu Long. Ngày nay có tất cả sáu (6) chiếc cầu, một chiếc ở
Thakhet rút ngắn thời gian đi lại, giao thương với Thailand và Việt Nam xuống còn
90 dặm. Ở Thakhet, tôi có thể nhìn qua đất Thailand từ cửa sổ khách sạn cư ngụ,
trong khi xem đài truyền hình Việt Nam.
Một buổi sáng ở
Vientiane, tôi gặp hội viên xe gắn máy, vào đầy phòng tiếp tân khách sạn “Chúng
tôi trên đường đi Malaysia”, một hội viên nhã nhặn trả lời. Một chặng đường khứ
hồi 2600 dặm. Một buổi sáng khác ở Louang Phabang, tôi thức giấc vì ngoài đường
phố đầy xe cộ mới đến. Xe nào cũng có bảng số Trung Hoa. Khi những tay lái xe gắn
máy đến từ Malaysia đi lên hướng bắc, đoàn xe người Hoa phát xuất từ Côn Minh
(Kunming) đi về hướng nam. Trước đây khi ngồi trong máy bay cất cánh, hình ảnh
hố bom hiện ra trong mắt tôi, bây giờ là một sân đánh golf mới do Nam Hàn xây cất.
Một thành phố hồi sinh
Một thời gian dài trước
đây khi tôi đứng bên bờ sông ở Vientiane, tôi băn khoăn trước một câu hỏi mà biết
rằng không thể nào trả lời được. Một người Hoa Kỳ như tôi, tưởng rằng có thể
chiến thắng trận chiến Việt Nam bằng cách hủy diệt nước Lào? Khi tôi viết bài
tường thuật, một cuộc chiến bí mật đang xẩy ra trên nước Lào, được đăng tải hàng
đầu trên báo chí thế giới. Sự thật, người Hoa Kỳ đã nhúng tay vào chuyện bên Lào
từ những năm 1950, kéo dài đến năm 1974, không bí mật. Bạn cứ hỏi một người dân
Lào, chuyện gì đã xẩy ra trên quê hương của họ là đủ. Tất cả những phụ nữ bán
hoa sen sáng sớm ở ngoài chợ, những trẻ em
ngoài đường đều biết đến đường mòn HCM, đạo quân bí mật do cơ quan tình
báo CIA tài trợ, và cả chuyện phi cơ Hoa Kỳ thả bom nơi có thường dân cư trú. Họ
biết luôn chuyện người Hoa Kỳ bí mật liên hệ đến việc mua bán trao đổi nha phiến
(opium trade).
Trong năm 1968, năm Tổng
Công Kích tết Nguyên Đán trên khắp miền nam Việt Nam, tôi lấy một chiếc taxi từ
hạ lưu sông Cửu Long đi lên cao nguyên Bolovens. Khi người lái xe từ chối không
chịu đi nữa, tôi lội bộ dưới tiếng gầm thét của phản lực Hoa Kỳ bay ngang qua.
Nơi cuối chân trời, dưới rặng cây, tôi trông thấy bóng người ngụy trang. Đó là
lần duy nhất trong suốt cuộc chiến, tôi trông thấy người lính Bắc Việt, hoặc phi
cơ Hoa Kỳ thả bom. Năm đó tôi 23 tuổi, kiếm tiền bằng cách tìm ra sự thật.
Tại Pakxong, một đồn
canh cũ cho chủ đồn điền cà phê người Pháp. Tôi lang thang vào một quán rượu bỏ
hoang mà bạn có thể thấy trong phim về lính Lê Dương. Một bức họa trên tường vẽ
“Tây Đồn Điền” cùng với một nhóm phụ nữ Lào. Lúc đó, trời đã tối, dấu hiệu duy
nhất về sự sống là ánh đèn leo lét phát ra từ một căn nhà nhỏ bên cạnh nhà thờ
Pháp. Trong nhà, tôi gặp một tu sĩ người Pháp cụt một chân đang ngồi uống rượu
Whiskey, ống chân giả bằng gỗ đặt dựa vào bàn. Ông ta rót rượu cho tôi một ly, đang
đọc một bài viết dịch sang tiếng Pháp về “Đoàn Quân Mũ Xanh” (Green Berets – LLĐB).
Ông ta hỏi tôi “Trận chiến Việt Nam có giống vậy không?”.
Trong nhiều thập niên,
tôi muốn thăm lại Pakxong. Tôi biết vị tu sĩ người Pháp đã không còn ở đó nữa,
nhưng cũng không ngờ cả Pakxong cũng “biến” mất. Sau năm 1968, phi cơ B-52 đã
trải thảm bom xuống Pakxong hai lần. Chỉ còn lại một góc cháy đen của một tòa
nhà.
Vỏ
bom được dùng làm cọc cho nhà chơi trẻ em ở XiengKhouang. Năm 2012, một qủa phát
nổ làm chết 15 người Lào và bị thương 41 người khác.
Pakxong đã bị tiêu hủy,
nhưng sao lần trở về có một sự vui mừng trong tim tôi? Đó là con người - Họ vẫn
vui vẻ - bận rộn làm ăn cho cuộc đời tươi đẹp hơn. Như cả nước Lào, Pakxong cũng
đang chuyển mình từ bãi chiến trường sang thị trường buôn bán. Nơi đồn bót của
người Pháp xưa kia đã biến thành một cái chợ sầm uất, đông đảo kẻ mua người bán.
Điều làm tôi thích thú nhất là “Con trâu sắt” (Iron Buffalo). Bạn hãy tưởng tượng,
một nông dân Lào, muốn có đủ thứ quảng cáo trên TV nhưng không đủ tiền. Con trâu
sắt cho bạn là đủ. Không như trâu thật, con trâu sắt có thể bơm nước cũng như kéo
cầy, và nó có thể phát điện sáng nhà bạn. Sự thực đó là một máy tạo ra sức ép để
bàn nhỏ, và bạn có thể xử dụng trong nhiều trường hợp. Gắn vào máy bơm nước vào
ruộng, máy kéo cầy, kéo xe bò,…
Đó cũng là dịp cho tôi
gặp gỡ Lan Keopanya. Anh ta gắn một tay lái (vô lăng) xe Volvo vào con trâu sắt,
anh ta nổ máy chạy chiếc xe tự chế (homemade pickup), cho biết ngôi làng nhỏ của
anh ta cách chợ Pakxong 12 dặm “chuyến đi mất 4 lít dầu, cũng đáng giá”, nhờ đi
lại dễ dàng, anh ta bán được nhiều hàng hơn, cà phê, trái cây, rau qủa, và bán
đắt hơn nhờ còn tươi. Hôm đó, Lan Keopanya ra chợ mua tôn plastic về lợp mái
cho căn nhà mới. Anh ta hãnh diện khoe, cả sáu người con đều được đi học hoặc sẽ
đến trường. Một con đường mới đã được làm đến đầu làng của anh ta. “Chúng tôi
hy vọng sẽ có điện trong vòng hai năm tới”. Trước khi từ giã, tôi hỏi anh ta, còn
ao ước điều gì nữa? “Chúng tôi cần khai quang, dọn dẹp bom đạn… Nếu xong, tôi có
thể phát triển thêm nữa”
Trong thời gian thả bom
trên đất Lào, dân tộc thiểu số sống trên vùng đồi núi chịu nhiều thiệt hại nhất.
Kết cuộc, cả đôi bên đều bị thiệt hại, bom đạn không phân biệt cộng sản hay không
cộng sản, cũng như quân nhân và thường dân, trẻ em. Keay Tcha, 58 tuổi, đã sống
17 năm ở Ban Na Oune, một trại định cư người Hmong gần Louang Phabang kể lại.
Một vấn đề á phiện mới
Một điều không thay đổi
ở Lào, khí hậu nóng bức. Cơn khát đồ uống lạnh đưa tôi đến tiệm tạp hóa
Khenchan Khamsao trên tuyến đường bắc nam đi Louang Phabang. Trong tiệm có tủ kính
chứa nước uông lạnh, nhưng thùng rác mầu xanh mới đáng nói. Thùng rác có chân,
bên trong rộng chứa được nhiều rác và có nắp đậy, được biến chế từ cao su, lấy
từ vỏ bánh xe cũ.
Cuộc đời người chủ tiệm
cũng thoát ra từ nơi bom đạn tàn phá. Bà ta đến từ tỉnh Khammouan trung tâm nước
Lào, nơi này vẫn còn nhiều qủa bom chưa được khai quang nên không thể trồng trọt
cầy cấy được. Cùng với chồng di chuyển đến khu vực mới này và thành công, cửa
tiệm là tầng dưới căn nhà mới của họ. Người chồng tìm được công việc xây cất cách
Vangviang 65 dặm về hướng bắc, cả ba người con đều được đi học. Đứa lớn được gửi
đi học ở Vientiane.
Khi tôi nói, đi học ở
thành phố lớn như Vientiane rất tốt cho việc học, bà ta trả lời “Không phải vậy,
bà ta gửi con đi học xa để tránh những tay buôn bán thuốc phiện”. Trận chiến chống
ma túy bắt đầu từ năm 1989 với sự tài trợ của Hoa Kỳ để tận diệt vấn đề ma túy.
Năm 2006, Lào tuyên bố đã không còn tệ nạn ma túy, như khi đất nước đến giai đoạn
mở mang, nền kinh tế phát triển, các loại ma túy như Metham Phetamines xuất hiện
trở lại. Quốc gia Lào trở nên một trung tâm chuyển tiếp lớn cho Metham
Phetamine, ma túy, và thuốc phiện. Cũng như ở Hoa Kỳ những vùng xa thành phố dễ
bị ảnh hưởng nhất.
Sợ hãi những quả bom rơi
xuống
Ở Lào, khi nhiệt độ xuống
dưới 70 độ (độ F), người ta bắt đầu khoác thêm áo ấm, đội mũ và đốt lò sưởi. Một
đêm cuối năm, ba người bạn trong tỉnh
Xiang Khouang đi cắm trại, đêm đó nhiệt độ xuống thấp và họ nhóm lửa để sưởi. Một
quả bom nơi họ dựng lều phát nổ giết chết một người tại chỗ, một người khác bị
thương nặng. Tôi đi thăm người bị nhẹ nhất,
Yer Herr nơi làng anh sống, người thanh niên 18 tuổi kéo áo đằng sau lên cho tôi
xem 19 vết thương do mảnh bom trúng vào lưng.
Trong ngôi làng của
Yer, mọi nhà đều có điện, máy truyền hình vệ tinh, mọi người lớn đều có điện
thoại di động. Mỗi người Mẹ, người Vợ đều có chồng, anh em trai, em gái chết vì
bom đạn Hoa Kỳ sau khi trận chiến kết thúc. Những quả bom đang rơi xuống vẫn còn
tái xuất hiện trong giấc mơ của nhiều người. “Tôi sống với nó”.
Chiến tranh tiếp vận
Phi cơ Hoa Kỳ thả xuống
tổng cộng 270 triệu qủa bom nhỏ trên đất Lào, nhiều hơn dân số Hoa Kỳ trong cùng
thời gian. Thêm 4 triệu quả bom lớn. Trọng lượng bom cao hơn nhiều lần so với
trọng lượng tổng số dân chúng Lào. Khoảng thời gian đó, dân Lào khoảng chừng 2
triệu người, mỗi người được “chia” trung bình một tấn bom.
Thường xuyên trong suốt
cuộc chiến, Washington tuyên bố “Ngưng thả bom”, nhưng đường dây tiếp vận vũ khí,
bom đạn kéo dài 8000 dặm trải dài từ các kho vũ khí ở Hoa Kỳ qua Thái Bình Dương
không thể khóa lại đơn giản như lời nói. Do đó nếu quả bom không rơi xuống Việt
Nam sẽ chuyển hướng sang Lào. Đó là trận chiến tiếp vận đầu tiên. Thêm một điều
nữa, việc sản xuất hàng loạt bom đạn thiếu kiểm soát chất lượng. Có thể lên đến
10% số bom rơi xuống đất không nổ (hay chưa phát nổ).
American
University of Nigeria
Department
of Computer Science
vđh
PBC Hội Ngộ sưu tầm VDH dịch thuật
A Short Drive In The Jungle - Antonia's Bolingbroke-Kent
'For the first time in my life I felt that death was a possibility; a
stupid, pointless, lonely death on the aptly named Mondulkiri Death
Highway.' The Ho Chi Minh Trail is one of the greatest feats of military
engineering in history. But since the end of the Vietnam War much of
this vast transport network has been reclaimed by jungle, while
remaining sections are littered with a deadly legacy of unexploded
bombs. For Antonia, a veteran of ridiculous adventures in unfeasible
vehicles, the chance to explore the Trail before it's lost forever was a
personal challenge she couldn't ignore - yet it would sometimes be a
terrifying journey. Setting out from Hanoi on an ageing Honda Cub, she
spent the next two months riding 2000 miles through the mountains and
jungles of Vietnam, Laos and Cambodia. Battling inhospitable terrain and
multiple breakdowns, her experiences ranged from the touching to the
hilarious, meeting former American fighter pilots, tribal chiefs,
illegal loggers and bomb disposal experts. The story of her brave
journey is thrilling and poignant: a unique insight into a little known
face of Southeast Asia.
Biography
Antonia's - better known as Ants - favourite occupation is embarking on very long journeys in unsuitable vehicles; a habit which started in 2006 when she drove a bright pink tuk tuk from Bangkok to Brighton with her friend Jo. Through the trip the duo raised £50,000 for Mind, set the world record for the longest ever journey by auto-rickshaw, wrote a best-selling travel book Tuk tuk to the Road, and won Cosmopolitan magazine's Fun Fearless Female Award.Since then Ants has ridden a Honda C90 3000-miles around the Black Sea, organised the Mongol Derby, the longest horse race in the world, and survived an attempt to reach the Arctic Circle on an old Russian Ural and sidecar. Her articles have appeared in Wanderlust, The Guardian, Adventure Journal (USA), Verge (Canada) and Motorcycle Monthly, amongst others.
She's also appeared on numerous radio and TV shows, including Richard & Judy and Excess Baggage. In between travelling and writing she produces TV programmes for the BBC, Channel 4 and ITV.
Her next book, A Short Ride in the Jungle, will be published by Summersdale on April 7, 2014. The book recounts Ants' somewhat hair-raising solo motorbike mission down the remnants of the legendary Ho Chi Minh Trail in Vietnam, Laos and Cambodia.
Review
‘Compassionately but without sentimentality, Ants describes lands victimised in the recent past by militarism at its worst and now assaulted by consumerism at its most ruthless. She also provides many entertaining vignettes of eccentrics met en route, disasters narrowly avoided and happy encounters with kind people in remote regions of wondrous beauty.’(Dervla Murphy, legendary Irish travel writer)|‘Truly wonderful…a lovely book, very much after my own heart.’
(Ted Simon, author of Jupiter’s Travels.)|‘A beautifully written tale teeming with descriptive gems and wickedly funny anecdotes, all delivered in an earthy, self-effacing style that has the words spilling off the page. Utterly absorbing and impossible to put down. A traveller’s delight and classic-to-be!’
(Jason Lewis, author and the first person to circumnavigate the planet by human power alone)|‘Antonia Bolingbroke-Kent’s new book is a gripping travelogue which is at once both intimate and worldly-wise. Honest in her bravery (and brave in her honesty), she recounts a thrilling journey, not just through the splendour of South-East Asian landscapes, but also through the horror of Southeast Asian history – all atop the seat of the world’s most iconic motorbike.’
(Charlie Carroll, author of No Fixed Abode)|‘Ants has pulled off not only a demanding and original adventure but a great read too. A Short Ride in the Jungle informs and entertains in just the right measures, taking the reader on an action packed journey through Southeast Asia’s trails and jungles, as well its equally torrid history.’
(Lois Pryce, Motorcycle Adventurer and Author)|‘An epic book about an epic trail. Bolingbroke-Kent captures the sights, sounds and colour of the legendary Ho Chi Minh Trail in all its surviving glory. And she captures it the only realistic way – on the back on an ageing motorbike.’
Antonia is a travel writer,
ladyventurer, speaker, and lover of gin, motorcycles and tuk tuks.
After years of travelling as part of a television crew or with
companions, she decided she wanted to experience a true adventure on her
own, in her own words, "The sort where I would find myself lost in the
middle of the Southeast Asian jungle with nothing to survive but twigs
and peanut butter".
Complete with a beautiful
Pink(ish) Panther motorcycle, Antonia started her journey across the Ho
Chi Minh Trail in the spring of 2013. We’re sharing with you an extract
of her novel A Short Ride in the Jungle: The Ho Chi Minh Trail by Motorcycle with details of where to purchase below.An introduction to her journey
Constructed between 1959 and 1975, the Ho Chi Minh Trail once spread 12,000 miles through the mountains and jungles of Vietnam, Laos and Cambodia. Arguably one of the greatest feats of military engineering in history, the Trail was a paragon of ingenuity and bloody determination, the means by which the North Vietnamese fed and fought the war against the US-backed South. Without it there could have been no war, a fact which the Americans knew only too well: in a sustained eight year campaign to destroy it they flew 580,000 bombing missions and dropped over 2 million tonnes of ordinance on neutral Laos, denuded the jungle with chemicals and seeded clouds to induce rain and floods. At one point Nixon even mooted the notion of deploying nuclear weapons.While scores of travellers ride a tourist-friendly, tarmac version of the Trail between Hanoi and Ho Chi Minh City, only a handful follow its gnarly guts over the Truong Son Mountains into Laos. Even fewer trace it south into the wild eastern reaches of Cambodia. Antonia wanted to do both. Unlike the hundreds of thousands of North Vietnamese who walked, drove and worked on the Trail in the sixties and seventies, she wouldn’t have to deal with a daily deluge of bombs. But UXO, unexploded ordnance, littered her route south, cerebral malaria, dengue fever and dysentery were still prevalent and the trees slithered and crawled with unpleasant creatures.
Riding a 25-year old Honda Cub known as the Pink Panther, Antonia rode south from Hanoi, the cacophonous capital of Vietnam, through some of the remotest regions of Southeast Asia. Battling inhospitable terrain and multiple breakdowns, it was a journey that ranged from the hilarious to the mildly terrifying, during which she encountered tribal chiefs, illegal loggers, former American fighter pilots, young women whose children had been killed by UXO, eccentric Ozzie bomb disposal experts and multiple mechanics…
Going Solo
In the beginning of her novel, Antonia shares her thoughts and fears about the journey ahead as she prepares to embark alone from Hanoi.
I awoke as the first glimmer of dawn broke through the hotel curtains. Vietnam rises early and already the street outside was humming with the noise of mopeds and the clatter of opening shutters. It was almost too much to comprehend that in a few hours I’d be zipping up my panniers, turning into the traffic and heading south. But here I was, the swirling depths of the unknown beckoning me forward. There was no going back now.Despite my fears about the journey, I’d been determined to do it alone. Bar a stint backpacking around India in my early twenties, all my travels had been with other people. In 2006 my dear friend Jo and I drove a bright pink Thai tuk tuk a record- breaking 12,561 miles from Bangkok to Brighton. Aside from an altercation in Yekaterinburg over Jo’s snoring we got on brilliantly, splitting the driving and responsibilities, making each other laugh and mopping up the odd tears. Then there was my Black Sea trip with Marley, where I’d too easily fallen into the dependent female role, never so much as picking up a spanner as we trundled through six countries. The following year, in a shivering attempt to cajole an old Ural to the Russian Arctic Circle, I’d been with two fearless male friends, one a tap-dancing comedian, the other a consummate mechanic. On every other expedition I had organised, or television programme I had worked on, there had been translators, drivers, medics and crew. It doesn’t mean that each and every mission wasn’t difficult in some way, but having other people around greatly mitigated the risk and adversity.
As my insurance company had nervously pointed out, it would be ‘a lot easier if you modified your plans and went with a travel companion.’ Travelling alone on a motorbike was a travel insurance nightmare. Not only had I opted for a vehicle with a high accident rate, but what would happen if I had a serious mishap miles from anywhere? If I was with another person, at least they would be able to ride or call for help. But alone, with a broken leg, bashed head or worse, there would be no one.
But the dangers weren’t enough to put me off. Company makes us idle, gives us masks to hide behind, allows us to avoid our weaknesses and cushion our fears. By peeling away these protective layers I wanted to see how I would cope, find out what I was really made of, physically and emotionally. Would I be able to fix my bike if it ground to a halt in the middle of a river? How would I handle nights spent in a hammock in the depths of the jungle? What would it feel like to ride into a remote tribal village alone? How would I react in times of real adversity? And could I outstrip Usain Bolt if confronted by a many-banded krait?
A month before, I’d been relaxing with a cup of tea during a television shoot in Tanzania when I spied something red and black crawling across my shoulder. I screamed and leapt a foot in the air, sending tea and filming equipment flying into the dust. After several hysterical seconds on my part, the camera assistant confirmed it was no more than a harmless beetle.
“Jesus – and you’re going to Vietnam in a few weeks?” he laughed.
And on another occasion, driving into Bristol not long before I left, Marley had asked me what I was going to do about fixing the bike. “I’ll get a book called The Complete Idiot’s Guide to Motorcycles.”
“I think that might be a bit advanced for you,” he jibed.
At that point I’d driven across a roundabout and failed to see a car coming out of a small road to the right. There was a sharp intake of breath from my left. “God, the thought of you driving a motorbike in Vietnam is terrifying.”
I couldn’t go through life acting like a character from The Only Way is Essex every time I encountered something with more than four legs. Nor did I want to turn into one of those women who relies on their other half so much they end up unable to change a light bulb. If I always travelled with other people, I would never have to confront my weaknesses. There would be times when I’d want to share a laugh or a moment with Marley or have a stiff gin with friends. But hopefully there would also be moments of simple achievement. It was times like these that going solo were all about.
I breakfasted in a daze, my back still knotted, a ball of anxiety lurking in the pit of my stomach. For the first of many times, I packed up my hotel room and loaded the bike. I’d wanted to keep my luggage as simple and light as possible. I would be loading and unloading the bike every day, so it would be foolish to travel with any more than the bare minimum. Plus, in the same way that I’d wanted a simple bike, I didn’t want to be riding through poor villages clanking with showy, expensive equipment. My kit consisted of two small textile panniers – bought on eBay for £20 – which slung over the seat behind me cowboy-style, a pizza delivery-style top box and a ladylike wire front basket. The top box carried essentials such as my laptop, compact toolkit, camera and paperwork: International Driving Permit, driving licence, bike registration papers, photocopies of passport and visas. The front basket – added in Hanoi at the last minute – held bike spares Cuong had given me, plus my daily water supply. One side pannier fitted my limited wardrobe: a fleece, a single pair of jeans and one long skirt, a handful of tops, a floral shirt, a sarong, waterproof trousers, a bikini, three pairs of knickers, two pairs of socks, one decent set of matching underwear and flip flops. Shoe-horned into the other side pannier, along with a basic medical kit, balloons to give to children, solar charger and jungle hammock, was a precious bottle of Boxer Gin. Embarking on a solo expedition into the jungle was unquestionable without an emergency supply of the juniper nectar.
Round my waist I strapped a concealed money belt containing a debit card and a small supply of cash. And over my top I wore a nerdy but incredibly useful bumbag with: an iPhone, a small amount of dollars and local currency, a handheld GPS unit, a local phrasebook and my coterie of lucky talismans. Other stashes of currency were hidden in my backpack and in a secret sealed compartment on the bike. Designed to hold a few tools, it was the perfect size for a small waterproof bag containing a spare credit card and an emergency supply of dollars. With money hidden in four different places, I’d be unlucky to be cleaned out entirely.
Without much ado I said goodbye to the hotel staff, pulled on my Weise helmet, jacket and gloves and set sail. No big rush of nerves, no big fanfare, just a quiet “Right, let’s go!” to the bike, a slight wobble, and off we were.
I was thankful I hadn’t asked anyone to come and see me off. I didn’t need the added pressure of people or photographs this morning. Digby had come to bid me goodbye the night before.
“Don’t forget to go to lots of cắt tóc”, he advised, pointing to the hairdresser next to the hotel where a woman was having her head massaged. ‘They’re fabulous; you can get your hair washed all the way down the Ho Chi Minh Trail. You don’t even need to take shampoo with you.’
Given the dangers and challenges I’d be facing on the road, hair washes and head massages weren’t something I had envisioned.
“Is that your parting advice?” I asked, probing for something more applicable.
“Yes. It’s about the little things in life. Now goodbye and good luck.”
Then I’d watched him turn right and vanish into the darkness, the last familiar face I would see before my journey began.
A Short Ride in the Jungle: the Ho Chi Minh Trail by Motorcycle
Having returned from the mud and jungles of Southeast Asia I sat down in in front of my laptop and set about the equally hard task of penning a book about my adventure. Six months, 100,000 words, five hundred cups of Earl Grey and four hundred dog walks later, I handed in my tome to my publishers, Summersdale. Now, a year after I was forcing the Pink Panther through that dastardly orange Trail mud, my book, A Short Ride in the Jungle, is now out.
*** TO BUY A SIGNED COPY DIRECT FROM THE AUTHOR, PLEASE CONTACT ME HERE!***
Here’s what a few people have said about it…..‘Compassionately but without sentimentality, Ants describes lands victimised in the recent past by militarism at its worst and now assaulted by consumerism at its most ruthless. She also provides many entertaining vignettes of eccentrics met en route, disasters narrowly avoided and happy encounters with kind people in remote regions of wondrous beauty.’ Dervla Murphy, legendary Irish travel writer
‘Truly wonderful…a lovely book, very much after my own heart.’ Ted Simon, author of legendary motorcycling tome Jupiter’s Travels.
‘A beautifully written tale teeming with
descriptive gems and wickedly funny anecdotes, all delivered in an
earthy, self-effacing style that has the words spilling off the page.
Utterly absorbing and impossible to put down. A traveller’s delight and
classic-to-be!’
Jason Lewis, author and the first person to circumnavigate the planet by human power alone
‘A jaw-dropping adventure, part travelogue, part thriller….an adrenaline-fuelled, fascinating ride.’ Cosmopolitan magazine.
‘Fantastic.’ Overland Magazine.
‘Exceptionally well researched…personal,
emotional…perfectly written, demonstrating just how travel by motorbike
can be used to inform, educate and entertain the reader… a great book.’
Adventure Bike Rider magazine.
‘Thrilling and poignant: a unique insight into Southeast Asia.’ The Bristol Magazine.
‘Antonia Bolingbroke-Kent’s new book is a
gripping travelogue which is at once both intimate and worldly-wise.
Honest in her bravery (and brave in her honesty), she recounts a
thrilling journey, not just through the splendour of South-East Asian
landscapes, but also through the horror of Southeast Asian history – all
atop the seat of the world’s most iconic motorbike.’ Charlie Carroll, author of No Fixed Abode
‘Ants has pulled off not only a demanding and original adventure but a great read too. A Short Ride in the Jungle informs and entertains in just the right measures, taking the reader on an action packed journey through Southeast Asia’s trails and jungles, as well its equally torrid history.’ Lois Pryce, Motorcycle Adventurer and Author
‘An epic book about an epic trail.
Bolingbroke-Kent captures the sights, sounds and colour of the legendary
Ho Chi Minh Trail in all its surviving glory. And she captures it the
only realistic way – on the back on an ageing motorbike.’ Kit Gillet, Freelance Journalist and Videographer
To see more reviews on Amazon from people who have bought the book please click here. As of July 2014 it has solid 5 star reviews.
The book was released in April 2014 and
is available in all major UK bookshops, as well as on Kindle. It is
also available at selected outlets worldwide; here are a few…
Monument Books, Phnom Penh; Kinokunya
stores, Malaysia, WH Smith Airport stores, Malaysia; Asia Books,
Thailand; the Bookwork, Hanoi… as well as other stores throughout Asia
and in Africa, Australia and NZ. It will be available in the US and
Canada sometime in 2015.
Subscribe to:
Posts (Atom)












